, , , , , Posted by on

Tiểu Sử Những Nghệ Sĩ Được Đặt Tên Đường Trong Dự Án Căn Hộ The Art

Tiểu Sử Những Nghệ Sĩ Đặt Tên Đường Trong Dự Án Căn Hộ The Art

Căn Hộ The Art có một nét đặc biệt mà không một dự án nào trên thị trường bất động sản ở Việt Nam hiện nay có được. Nét đặc biệt thể hiện trong việc chọn phân khúc khách hàng, thiết kế căn hộ, thiết kế không gian sống, các tiện ích, cách đặt tên đường … hướng đến tầng lớp trí thức trẻ và văn nghệ sĩ. Những con đường trong dự án đều được đặt tên theo những nghệ sĩ nổi tiếng của Việt Nam, qua bài viết tôi muốn giới thiệu sơ lược về tiểu sử những người được đặt tên cho những con đường trong dự án Căn Hộ The Art.

TIỂU SỬ NHỮNG NGHỆ SĨ ĐƯỢC ĐẶT TÊN ĐƯỜNG TRONG

DỰ ÁN CĂN HỘ THE ART

Khu dân cư Gia Hòa The Art Vilage được đánh giá là dự án đặc biệt nổi trội tại khu vực Quận 9, có rất nhiều yếu tố giúp khu dân cư này trở thành điểm sáng trên thị trường bất động sản hiện nay. Từ thiết kế tổng quan đến thiết kế căn hộ rồi những tiện ích cao cấp đều góp phần tạo lên sự thành công của dự án. Điểm đặc biệt của dự án và cũng là tinh túy của dự án là sự tinh tế và tính nghệ thuật thực sự nổi trội. Những con đường trong dự án đều được đặt tên những nghệ sĩ nổi tiếng của Việt Nam, qua bài viết này ta sẽ tìm hiểu qua về tiểu sử các nghệ sĩ được đặt tên những con đường trong dự án.

1. Tiểu sử nghệ sĩ Diệp Minh Tuyền.

Sinh năm 1941 – mất năm 1997, Diệp Minh Tuyền là một nhà thơ nhưng hầu hết lại được biết đến như một nhạc sĩ của Việt Nam. Hầu hết các sáng tác của ông đều thuộc dòng Nhạc Đỏ, được biết đến nhiều hơn cả là bài “Hát Mãi Khúc Quân Hành” nhưng Diệp Minh Tuyền còn là tác giả của ca khúc “Tình Cờ”, một ca khúc trữ tình được giới trẻ yêu thích.

 Diệp Minh Tuyền sinh ngày 18 tháng 8 năm 1941 tại thành phố Mỹ Tho (lúc bấy giờ còn gọi là thị xã Mỹ Tho), trong một gia đình trí thức yêu nước. Cha ông từng là thủ lĩnh của thanh niên tỉnh Mỹ Tho thời kháng chiến chống Pháp. Năm 6 tuổi, Diệp Minh Tuyền theo cha mẹ tản cư lên Sài Gòn.

Mê nhạc từ nhỏ, ngày bé ông được mẹ dạy chơ đàn Mandoline. Năm 1950, Diệp Minh Tuyền theo mẹ vào chiến khu Đồng Tháp Mười và đã tham gia biểu diễn trong các cuộc văn nghệ của đơn vị mẹ ông. Từ thời kỳ đó, ông đã bắt đầu ảnh hưởng bởi những ca khúc kháng chiến của các nhạc sĩ như Văn Cao, Lưu Hữu Phước …

Năm 1952, Diệp Minh Tuyền theo cha về Phân liên khu Miền Tây ở rừng U Minh. Ông theo học tại trường tiểu học kháng chiến xã Biển Bạch và tham gia đội văn nghệ của trường. Ông cũng tham gia phụ việc làm nhân viên ấn loát thuộc Phòng Chính Trị bộ tư lệnh Miền Tây Nam Bộ. Cũng ở đây, Diệp Minh Tuyền có được gặp gỡ nghệ sĩ Quốc Hương.

Năm 1954 Diệp Minh Tuyền tập kết ra Bắc. Ông học ở trường học sinh Miền Nam và tham gia ban văn nghệ trường Học Sinh Miền Nam số 14, một ban văn nghệ khá nổi tiếng ở Hải Phòng. Thời gian này ông viết ca khúc đầu tay “Em Bé Miền Nam”, rồi tiếp theo đến “Chiều Hạ Long”.

Mặc dù dự định thi vào trường Âm Nhạc Việt Nam, nhưng nghe lời của cha, năm 1961 ông thi vào Đại Học Tổng Hợp Văn. Ông tiếp tục chơi nhạc và làm thơ. Năm 1962, bài thơ đầu tiên của ông được đăng trên số Xuân của Báo Phụ Nữ. Từ 1965 đến 1968, ông về làm việc ở tổ lý luận phê bình Viện Văn Học Việt Nam. Thơ của ông được nhiều người phổ nhạc như bài “Con đường có lá me bay”, “Mùa chim én bay” (được Hoàng Hiệp phổ nhạc), “Màu cờ tôi yêu” (được Phạm Tuyên phổ nhạc) … Ông đã xuất bản được 6 tập thơ.

Sau năm 1975, Diệp Minh Tuyền công tác tại Hội Văn Học Nghệ Thuật TP.Hồ Chí Minh. Năm 1978, ca khúc Tình Biển của ông được nhiều người biết đến qua tiếng hát Nhã Phương. Khi chiến tranh Tây Nam bùng nổ năm 1979, Diệp Minh Tuyền viết Bài ca tạm biệt, tiếp theo Bài Ca Người Lính, Nếu em là bờ xa, Bài ca thành phố ban chiều, Giã từ cánh phượng vĩ … Và đặc biệt là Hát mãi khúc quân hành được giải nhất cuộc thi viết về lực lượng vũ trang năm 1984.

Khoảng cuối thập niên 1990, ca khúc Tình Cờ của ông được giới trẻ yêu thích qua sự thể hiện của ca sĩ Phương Thanh.

Diệp Minh Tuyền từng giữ chứ Phó tổng thư ký hội âm nhạc TP.Hồ Chí Minh kiêm Tổng biên tập Tạp Chí Sóng Nhạc. Ông còn là hội viên hội nhà văn Việt Nam, Hội nhà báo Việt Nam, Ủy viên ban chấp hành hội nhà văn TP.Hồ Chí Minh. Ông còn được nhiều giải thưởng âm nhạc của TP.Hồ Chí Minh và là tác giả nhiều bài phê bình âm nhạc, văn hóa.

Ông mất ngày 21 tháng 11 năm 1997 tại TP.Hồ Chí Minh do bị tai biến mạch máu não.

2. Tiểu Sử Nhà Thơ Huy Cận.

Nhà thơ Huy Cận có tên đầy đủ là Cù Huy Cận, là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của phong trào thơ mới. Ông là bạn tâm giao của Xuân Diệu, một nhà thơ nổi tiếng khác của Việt Nam.

Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919, trong một gia đình nhà nho nghèo gốc nông dân dưới chân núi Mồng Gà, bên bờ sông Ngàn Sâu (thượng nguồn sông La) ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn sau đó thuộc huyện Đức Thọ (nay là xã Ân Phú, huyện Vũ Quang), tỉnh Hà Tĩnh. Ngày sinh hiện nay là do ông cậu của ông khai khi vào học ở Huế, còn ngày sinh chính xác là ngày 29 tháng Chạp năm Bính Thìn (dương lịch là ngày 22 tháng 1 năm 1917).

Ông lúc nhỏ học ở quê, sau vào Huế học trung học, đậu tú tài Pháp, rồi ra Hà Nội học trường Cao Đẳng Canh Nông. Trong thời gian học Cao Đẳng, ông ở phố Hàng Than cùng với Xuân Diệu. Từ năm 1942, ông tham gia phong trào sinh viên yêu nước và mặt trận Việt Minh. Huy Cận đã tham dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào (tháng 8 năm 1945) và được bầu vào Ủy Ban Giải Phóng (tức Chính Phủ Cách Mạng lâm thời sau đó).

Huy Cận cũng từng công tác với nhóm Tự Lực Văn Đoàn.

Về tác phẩm, trước cách mạng tháng 8 năm 1945.

Huy Cận có thơ đăng báo từ 1936, cho in tập thơ đầu “Lửa Thiêng” năm 1940 (gồm những bài đã đăng báo, khoảng 1936 – 1940) và trở thành một trong những tên tuổi hàng đầu của phong trào thơ mới lúc bấy giờ. Bao trùm “Lửa Thiêng” là một nỗi buồn mênh mang da diết. Thiên nhiên trong tập thơ thường bao la, hưu quạnh, đẹp nhưng buồn. Nỗi buồn đó dường như vô cớ, siêu hình nhưng xét đến cùng, chủ yếu là buồn thương về cuộc đời, kiếp người, về quê hương đất nước. Hồn thơ “ảo não”, bơ vơ đó vẫn cố tìm được sự hài hòa và mạch sống âm thầm trong tạo vật và cuộc đời. Trong “kinh cầu tự” (1942, văn xuôi triết lý) và Vũ Trụ Ca (thơ đăng báo 1940 – 1942), Huy Cận đã tìm đến ca ngợi niềm vui, sự sống trong vũ trụ vô biên song vẫn chưa giải thoát khỏi bế tắc.

Những tác phẩm sau cách mạng tháng 8 năm 1945.

Các tập thơ của Huy Cận sau Cách mạng tháng 8: trời mỗi ngày lại sáng (1958), đất nở hoa (1960), bài thơ cuộc đời (1963)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>